Vietnam.vn - Nền tảng quảng bá Việt Nam

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thanh âm ở lại

Trong giới hát văn, Ngô Nhật Tăng là một cái tên khá đặc biệt. Không phải vì chàng trai thuộc thế hệ đầu 8X là cung văn hay một nhạc công, mà bởi anh dành gần 20 năm để sưu tầm và số hóa một kho băng cassette hát văn đồ sộ. Điều này góp một phần nhỏ vào nỗ lực bảo tồn nghệ thuật dân gian nói chung, nghệ thuật hát văn nói riêng.

Báo Nhân dânBáo Nhân dân29/08/2025

Ngô Nhật Tăng và nghệ nhân hát văn Hoàng Trọng Kha.
Ngô Nhật Tăng và nghệ nhân hát văn Hoàng Trọng Kha.

Hát văn có xuất xứ ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, là loại hình nghệ thuật truyền thống trong “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại từ năm 2016.

Hành trình sưu tầm

Trong căn phòng nhỏ ở khu đô thị Đại Kim mới, Hà Nội, nơi Tăng dành làm việc, tôi thấy lại những chiếc băng cũ kỹ từ đầu thập kỷ 90, thời thế hệ chúng tôi vẫn thường nghe suốt ngày cùng với chiếc đài cassette của Sony. Để tôi ngắm nghía kỹ càng, hồi tưởng lại ký ức xa xưa, Tăng mở cửa băng, nhét một cuốn băng vào và bật nút “play”.

Âm thanh từ chiếc loa phát ra rè rè, lẫn lộn giữa tiếng người hát, tiếng đàn nguyệt, tiếng phách và tiếng trống. Vậy mà gần 20 năm qua, Tăng luôn thích nghe thứ âm thanh mộc mạc đó, được tự thu từ chính những chiếc băng cassette, thay vì là loại băng do các trung tâm băng đĩa sản xuất. Và không chỉ một băng với độ dài 90 phút, mà anh đã nghe đi nghe lại hàng chục lần, hàng trăm lần.

Dù không phải là một nhạc sĩ, nhà sản xuất hay một người chỉnh nhạc (DJ) mà chỉ đơn giản với niềm đam mê hát văn mà Tăng đã dành thời gian để gặp, nghe, trò chuyện với những tên tuổi trong tín ngưỡng Tứ Phủ, những bậc thầy của nghệ thuật hát văn sau khi nghe các nghệ sĩ như Xuân Hinh, Văn Chương hát lần đầu vào năm 2007.

Hồi đầu, anh tham gia các diễn đàn để tìm kiếm băng cassette về hát văn rồi giao lưu, chia sẻ, sau đó đi sâu hơn vào nghiên cứu nghệ thuật hát văn. Nhờ vậy mà tháng 5/2024, khi tác giả Lê Y Linh, con gái nhạc sĩ Hoàng Vân, tổ chức ra mắt cuốn “Phạm Văn Kiêm và trăm năm hầu bóng-nhạc-văn” viết về vai trò của nhạc-văn trong tín ngưỡng hầu bóng, bộ sưu tập hàng trăm bài hát của nghệ nhân Phạm Văn Kiêm, tôi mới biết Tăng cũng tham gia với vai trò tổ chức chú giải chi tiết gần 200 bản văn cổ của nghệ nhân.

Nói thế đủ thấy bộ sưu tập tư liệu quý giá về nhạc văn trong tín ngưỡng thờ Mẫu của Tăng lớn thế nào sau rất nhiều năm anh bỏ công điền dã khắp các tỉnh, thành phố từ bắc vào nam, đánh đổi bằng những tháng ngày gặp gỡ các nghệ nhân, trò chuyện, xem, nghe họ biểu diễn...

Sau này, như Tăng nói thì việc theo đuổi câu hát tiếng đàn, có được nguồn tư liệu giá trị về hát văn có lẽ là nhờ duyên nợ của anh, chứ không phải may mắn mà anh có được nhờ sự phù hộ, ưu ái (nếu có) của các cụ, các thầy cho một kẻ hậu sinh có một niềm đam mê như vậy. Đúng là duyên nợ vì đến giờ, Tăng vẫn gắn bó với hát văn như những ngày anh còn công tác ở Sở Văn hóa, Thể thao Hà Nội, còn chuyên ngành công nghệ thông tin mà anh từng học tại Đại học Bách khoa Hà Nội thì đã trở thành một phần quá khứ của gần 20 năm qua.

Điều khiến tôi ngạc nhiên về chàng trai quê Thái Bình (Hưng Yên hiện nay) đã có suy nghĩ rằng, theo thời gian, những nhân chứng sống sẽ dần dần qua đời. Những ngón đàn, những làn điệu, những lối nhịp phách cũng vì thế thưa dần và mai một, chỉ có những chiếc băng cassette tưởng chừng vô tri là còn lưu giữ nguyên các cung bậc cảm xúc, những ngón nghề nghệ thuật, giọng ca của các nghệ nhân.

Và những chuyến đi, những cuộc gặp gỡ đã giúp Tăng dần dần sưu tầm và số hóa tư liệu hát văn cho đến giờ.

Giá trị tư liệu và di sản

800 trang cuốn “Phạm Văn Kiêm và trăm năm hầu bóng-nhạc-văn” có thể kể câu chuyện lịch sử trăm năm của tín ngưỡng hầu bóng và nghệ thuật hát văn nhưng đó mới chỉ là một phần của quá trình bảo tồn nghệ thuật dân gian nói chung, nghệ thuật hát văn nói riêng.

Theo Tăng, anh không làm nghề, cũng không gảy hết được một trổ đàn, gõ không dứt được một trổ phách, nhưng nhìn di sản hát văn mà tiền nhân để lại đang thay đổi, phát triển và dần xa rời bản gốc, đôi khi anh thoáng chạnh lòng. Vì thế, những tư liệu âm thanh ở dạng số hóa mà anh thực hiện từ năm 2007 sẽ là kho dữ liệu quý giá cho bất cứ ai quan tâm, tìm hiểu về hát văn hay gần nhất là những cung văn, nhạc công theo đuổi các hình thức biểu diễn như hát thờ, hát thi, hát hầu và hát nơi cửa đền, cửa đình.

Tăng bộc bạch, đằng sau mỗi chiếc băng cassette hay một nghệ nhân hát văn là nhiều câu chuyện hay và anh may mắn sở hữu những bản thảo, bản văn tự ghi âm của họ. Chẳng hạn như trong các chuyến điền dã, anh có cơ hội gặp nhiều nghệ nhân như Lê Bá Cao (xã Thường Tín, Hà Nội).

Gia đình nghệ nhân có truyền thống nho học, nhiều đời dạy học, bản thân ông có kỹ năng sư phạm cho nên việc phân tích lề lối, trẻ phách, trổ đàn của ông rất rõ ràng, dễ hiểu khi thị phạm. Nghệ nhân nổi danh lúc đương thời bởi giọng hát Thổ Đồng và lối ngâm thơ phú đặc trưng. Những bản văn chầu thờ Mẫu Thoải, Nhị vị Bồ Tát… là những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc trong giới hát văn của nghệ nhân Lê Bá Cao.

Và nói về đóng góp cho nghề còn rất nhiều nghệ nhân như Hồng Tĩnh, Phạm Văn Tỵ, Vinh Đồ, Ngọc Chầu, Văn Chung, Trọng Quỳnh, Công Mạnh, Đức Bằng, Thanh Long... mà anh từng gặp, từng thị phạm những làn điệu, lề lối cổ truyền trong hát văn.

Nếu việc gặp được những bậc thầy trong hát văn đã là duyên, là may mắn thì cơ hội sở hữu những bản văn cổ, những bản thu âm tự ghi của họ đặc biệt hiếm hoi. Lý do một phần vì tín ngưỡng, một phần thị hiếu nghe thiên về nhạc trẻ, nhạc quốc tế thời đó, trong khi bản thân các cung văn cũng không nghĩ đến việc ghi âm để làm kỷ niệm.

Vì thế, Tăng kể, ngoài một vài nghệ nhân tự thu âm một số bản kỷ niệm thì cần kể đến những đóng góp to lớn của cụ thủ từ Trang Công Thịnh ở đền Dâu, số 64 Hàng Quạt (Hà Nội). Ông Thịnh là một nhà nghiên cứu sưu tầm và truyền bá văn hóa dân gian của Thủ đô, từ nghệ thuật diễn xướng dân gian cho đến việc ứng dụng ca dao tục ngữ trong đời sống và lưu giữ nhiều băng hình, băng cassette thu hình thu âm lại những buổi hầu thánh, những buổi dâng văn hầu ở thập niên 80, 90 của thế kỷ trước.

Còn nói về tư liệu chầu văn thờ thì không thể không kể đến cố Trưởng ban quản lý di tích Phủ Tây Hồ, ông Trương Công Đức. Khi ông Đức còn sống thì những bản chầu thờ nổi tiếng như Mẫu Thoải, Cảnh Thư đường, Giáng Tiên kỳ lục, Vân Hương sự tích văn, Tiên Chúa bát nàn,... đều được ông cẩn thận thỉnh các nghệ nhân bậc thầy đương thời lúc bấy giờ và được thu âm lưu giữ.

Và ngoài những băng tự ghi âm của các nghệ nhân Phạm Văn Kiêm, Đoàn Đức Đan, Chu Đức Duyệt, cụ Khiết, cụ Sử (Sài Gòn) được thu âm lẻ tẻ, thì phải kể đến bộ 5 băng cassette mà thủ nhang Trần An Đức Hạnh cho thu âm lưu giữ. Theo Tăng, bộ 5 băng này nghe đâu thất lạc mất một băng, bốn băng còn lại hiện được một nhà sưu tập đang lưu giữ.

Nhờ học về công nghệ thông tin cho nên khi bắt đầu số hóa tư liệu hát văn năm 2007, Tăng làm ngày, làm đêm trong 5 năm liên tiếp. Vốn dĩ việc tiếp cận tư liệu đã khó, quá trình xây dựng thư viện số cũng không dễ dàng do băng cassette kém, chưa kể những đoạn đứt phải nối lại, thời gian nghe nhiều và mất công vì phải nghe đi, nghe lại để xác định giọng của ai, lời văn cụ thể. Hàng trăm băng cassette như vậy đã lấy đi của anh không chỉ thời gian, tiền bạc mà còn cả hạnh phúc gia đình, cho thấy gần 20 năm số hóa là một hành trình dài kiên trì và tâm huyết.

Tăng làm ngày, làm đêm trong 5 năm liên tiếp. Vốn dĩ việc tiếp cận tư liệu đã khó, quá trình xây dựng thư viện số cũng không dễ dàng do băng cassette kém, chưa kể những đoạn đứt phải nối lại, thời gian nghe nhiều và mất công vì phải nghe đi, nghe lại để xác định giọng của ai, lời văn cụ thể. Hàng trăm băng cassette như vậy đã lấy đi của anh không chỉ thời gian, tiền bạc mà còn cả hạnh phúc gia đình, cho thấy gần 20 năm số hóa là một hành trình dài kiên trì và tâm huyết.

Tăng còn học chữ Hán để hiểu được lời văn và điển tích. Anh còn thuê chuyên gia Hán Nôm hỗ trợ giải nghĩa và hiệu đính. Vì thế, bộ sưu tập những bài hát văn trong cuốn “Phạm Văn Kiêm và trăm năm hầu bóng-nhạc-văn” mới chỉ là một phần tư liệu mà Tăng đã chú giải, khi anh tiết lộ anh đã hoàn thành xong bản thảo một cuốn sách khác về tư liệu hát văn.

Trong thời đại mà mọi thứ đều có thể lưu trữ trong vài cú click chuột, những cuộn băng cassette hát văn mà Tăng trân trọng nâng niu không chỉ là phương tiện lưu giữ âm thanh. Chúng là ký ức, là kỷ niệm, là những giọng hát vang vọng từ quá khứ. Mỗi lần “nhấn play”, tiếng đàn, tiếng hát dù méo mó, rè nhiễu vẫn đủ sức gợi lên một thế giới linh thiêng nơi cửa đình, cửa đền, nơi những giọng ca không còn nữa nhưng hiện hữu qua từng vòng băng quay.

Bằng lòng kiên trì hiếm có, sự dấn thân không toan tính và một tình yêu thuần túy dành cho hát văn, Ngô Nhật Tăng đang lặng lẽ làm công việc của một người gìn giữ: Bảo tồn không chỉ âm thanh, mà cả tinh thần của một di sản dân tộc.

Thanh âm ấy vẫn còn. Và sẽ còn mãi!

Nguồn: https://nhandan.vn/thanh-am-o-lai-post904781.html


Bình luận (0)

No data
No data

Cùng chuyên mục

Cận cảnh dàn 'quái vật thép' phô diễn uy lực tại A80
Tổng hợp luyện A80: Sức mạnh Việt Nam tỏa sáng dưới đêm Thủ đô ngàn năm văn hiến
Giao thông Hà Nội hỗn loạn sau mưa lớn, tài xế bỏ ô tô trên đường ngập
Những khoảnh khắc ấn tượng về đội hình bay làm nhiệm vụ trong Đại lễ A80

Cùng tác giả

Di sản

Nhân vật

Doanh nghiệp

No videos available

Thời sự

Hệ thống Chính trị

Địa phương

Sản phẩm